SỐT RÉT: Một số điểm đặc biệt trong nghiên cứu hiệu lực thuốc điều trị Plasmodium vivax (WHO, 2009)
1. Thiếu hoạt độ G6PD
Plasmodium vivax (P. v.) có điểm đặc biệt chính là sự tồn
tại thể ngủ trong gan, hiện nay được khuyến cáo điều trị bằng liệu trình 14
ngày primaquine [1] và một loại thuốc đơn liều tiềm năng là tafenoquine. Tuy
nhiên, đây là hai loại thuốc có tính oxy hóa có thể gây ra thiếu máu do tan máu
ở những người thiếu hoạt độ G6PD. Do đó, tiêu chí hoạt độ G6PD bình thường (đơn
vị UI/g Hb) cần được đưa vào tiêu chuẩn tuyển chọn. Thêm vào đó, primaquine chống
chỉ định đối với phụ nữ có thai và trẻ em dưới 4 tuổi [2].
2. Tương tác giữa primaquine và chloroquine
Sử dụng primaquine đồng thời được
báo cáo làm tăng hiệu lực của chloroquine đối với KSTSR giai đoạn trong máu. Việc
sử dụng đồng thời này có thể che giấu sự kháng chloroquine, do đó, nếu muốn
đánh giá hiệu lực của chloroquine riêng lẻ, primaquine nên được chỉ định sau
khi đủ thời gian theo dõi 28 ngày. Tuy nhiên, chính sách thuốc hiện nay bắt buộc
bắt đầu sử dụng primaquine cùng lúc với chloroquine vào ngày đầu tiên [1], cho
nên, khi phiên giải kết quả nghiên cứu, các kết cục cần được hiểu là kết cục
chung của phối hợp thuốc, chứ không phải của riêng chloroquine.
3. Phân loại hiệu lực điều trị
Trong protocol ban đầu (WHO,
2002), hiệu lực điều trị bao gồm thất bại điều trị và điều trị thành công.
Trong đó, thất bại điều trị [ảnh] được định nghĩa có hiện diện KSTSR và một
trong các điều kiện: (1) yêu cầu nhập viện; (2) có sốt trong giai đoạn từ D3 đến
D28; (3) KSTSR trong giai đoạn từ D7 đến D28, bất kể lâm sàng.
Tuy nhiên, khi tỷ lệ cao đối với thất bại điều trị sớm được báo cáo, phân loại hiệu lực điều trị cho P.v. đã được điều chỉnh giống với hiệu lực điều trị cho P.f. Tức là bao gồm: ACPR, ETF, LCF, LPF.
4. Nồng độ chloroquine và kháng thuốc
Nồng độ tối thiểu để chloroquine đạt
hiệu quả:
+ Huyết tương (plasma): 15 ng/ml;
+ Huyết thanh (serum): 30 ng/ml;
+ Máu toàn phần: 79-90 ng/ml
Nếu nồng độ thuốc trong máu toàn
phần vượt mức 100 ng/ml mà vẫn có sự hiện diện KSTSR thì sẽ là một chỉ điểm gợi
ý kháng chloroquine [3].
Phương pháp đo lường: lấy 100 µL
máu mao mạch hoặc máu tĩnh mạch vào giấy thấm (Whatman 31Etchr) vào ngày D0,
D7, D28 và ngày xuất hiện KST trở lại. Giấy thấm có thể lưu trữ trong bì nhựa
trong 2 năm.
5. Tái xuất hiện Plasmodium
vivax
Có 4 khái niệm dễ gây nhầm lẫn
trong tái xuất hiện P.v., có thể được làm rõ theo sơ đồ sau:
Một số nghiên cứu được thực hiện đối với những trường hợp xác định là tái phát do thể ngủ, cho thấy hơn 50% các KST gây ra tái phát có kiểu gen khác với KST ban đầu [4]. Do đó, hiện nay các công cụ genotyping vẫn chưa thể phân biệt giữa tái nhiễm và tái phát.
6. Đánh giá hiệu lực primaquine trong chống tái phát vivax
Primaquine, 8-aminoquinolein, tác động
lên KSTSR giai đoạn ngoài hồng cầu, tiêu diệt thể ngủ, chống tái phát
(relapse).
Thất bại primaquine được định
nghĩa là dương tính P.v trên kính hiển vi sau điều trị theo phác đồ (CQ+PQ),
trong thời gian theo dõi, với điều kiện kiểm soát được tái nhiễm (reinfection).
Tái phát có thể xảy ra từ lúc 16
ngày cho đến 3 năm sau khi nhiễm KST, tuy nhiên thời gian theo dõi trong nghiên
cứu có thể dao động từ 3 đến 12 tháng, tùy vào đặc điểm KSTSR tại điểm nghiên cứu.
Tốt nhất, tỷ lệ tái phát nên được
so sánh giữa nhóm bệnh nhân được điều trị với primaquine và nhóm bệnh nhân
không được điều trị với primaquine (có thể lấy số liệu của nghiên cứu trước, hoặc
nhóm chứng bao gồm những người chống chỉ định với primaquine, vd: thiếu hoạt độ
G6PD).
BS. Châu Khánh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ Y tế Việt Nam. (2020). Hướng
dẫn chẩn đoán và điều trị sốt rét.
[2] Hill
DR et al. (2006). Primaquine: report from CDC expert meeting on malaria
chemoprophylaxis I. American Journal of Tropical Medicine and Hygiene, 75:402–415.
[3] Baird JK et al. (1997). Diagnosis of resistance to
chloroquine by Plasmodium vivax: timing of recurrence and whole blood
chloroquine levels. American Journal of Tropical Medicine and Hygiene, 56:621–626.
[4] Chen N et al. (2007). Relapses of Plasmodium
vivax infection result from clonal hypnozoites activated at predetermined
intervals. Journal of Infectious Diseases, 195:934–941.
[5] WHO (2009).
Methods for surveillance of antimalarial drug efficacy.

Nhận xét
Đăng nhận xét